Trước tiên xác định túi dùng để trang trí hay để đựng đồ. Nếu cần đựng đồ, dùng vật đại diện và cách sử dụng do hai bên thống nhất để kiểm tra ngoại quan, miệng túi và mối nối của mẫu áo hoàn chỉnh khi có tải, sau khi lấy đồ ra, sau khi để nghỉ và sau cách chăm sóc đã thỏa thuận. Ghi riêng thay đổi của túi, mối nối và thân áo xung quanh; khi thử mặc kiểm tra đồ không cản trở chuyển động và không dễ rơi. Không duyệt cả chiếc áo chỉ từ ảnh túi rỗng trải phẳng hoặc mẫu vải túi, và không coi một lần quan sát mẫu là bảo đảm cho sản xuất hàng loạt.
Hướng dẫn này dành cho cardigan dệt kim có túi sử dụng được. Túi có thể là túi đắp, túi lắp chìm hoặc cấu trúc khác; thiết kế cố ý chùng hay chỉ để trang trí không nên áp cùng yêu cầu ngoại quan. Trước tiên lưu mẫu vật, bản vẽ và ảnh được hai bên chấp nhận, nêu rõ dáng, chức năng và cách cho vào lấy ra có thể chấp nhận. Có thể tham khảo sản phẩm cardigan WTBF khi chọn áo, nhưng vẫn phải xác nhận cấu trúc túi cụ thể trên mẫu và tài liệu kỹ thuật.
Phân biệt bốn hiện tượng
Túi bị kéo xuống khi có đồ, biến dạng còn lại sau khi lấy đồ ra, miệng túi há và chỉ lỏng hoặc hư hỏng ở mối nối là những vấn đề khác nhau. Ghi riêng vị trí, thời điểm và mức độ: hai đầu miệng túi, đáy túi, đường nối, thân áo hay gấu áo. Xem túi rỗng sau khi để nghỉ trước, rồi xem lúc có tải, vừa lấy đồ ra và sau khi nghỉ. Ghi riêng túi trái và phải dù thiết kế giống nhau. Nếu có lỗ thủng, chỉ đứt rõ rệt hoặc vật dụng có nguy cơ gây thương tích, dừng thử mặc và giữ nguyên tình trạng; không tăng tải hay kéo thêm.
| Quan sát | Kiểm tra thêm | Vấn đề cần tạm hoãn quyết định |
|---|---|---|
| Túi rỗng đã phồng hoặc không phẳng | Tình trạng chuẩn bị mẫu, vị trí và ngoại quan đã duyệt | Đây có phải hiệu ứng thiết kế không? |
| Túi hoặc thân áo chùng khi có đồ | Khối lượng, hình dạng, vị trí vật và trạng thái mặc | Dáng khi sử dụng có chấp nhận được không? |
| Miệng túi hoặc thân áo không hồi phục sau khi lấy đồ | Thời gian sau khi lấy ra và điều kiện để nghỉ | Sau thời gian nghỉ đã thống nhất có trở lại trạng thái chấp nhận không? |
| Chỉ lỏng ở đầu miệng hoặc hư hỏng xung quanh | Mối nối, miệng túi và thân áo; ghi vị trí | Có cần làm lại và kiểm tra lại không? |
Bảng này là danh sách quan sát phát triển, không phải giới hạn đạt chung. Hướng dẫn may trang phục của Đại học Bang New Mexico liệt kê ngoại quan túi và gia cố góc trên túi đắp là các điểm kiểm tra; tài liệu không đưa ra khả năng chịu tải cho mọi cardigan dệt kim.
Ghi rõ điều kiện thử mặc và đựng đồ trước
Trong tài liệu kỹ thuật ghi công dụng túi, có dùng đồng thời hai túi không, cỡ và phiên bản mẫu, trạng thái mặc, cùng hình dạng, kích thước, khối lượng, số lượng, vị trí và thời gian đặt vật dùng để so sánh. Chọn vật hoặc vật thay thế phù hợp mục đích thực tế, không có cạnh sắc và không làm hỏng mẫu. Nếu dùng vật thay thế, lưu kích thước, khối lượng và hình dạng để lần sau có thể lặp lại. Không mô tả khối lượng do hai bên thỏa thuận là tiêu chuẩn tải thống nhất của ngành.
Để người thử tự nguyện đứng, ngồi và đi lại tự nhiên, đồng thời trong giới hạn an toàn cho vật vào và lấy ra theo cách thực tế. Quan sát xem có dễ với tới túi không, tay có bị vướng ở miệng túi không, vật có lộ ra hoặc dễ trượt ra không và độ chùng có kéo thân và gấu áo không. Xin đồng ý trước khi chụp ảnh, tránh ghi thông tin cá nhân không cần thiết. Nêu trước từng động tác, số lần lặp và điều kiện dừng; dừng ngay nếu đau, mẫu hỏng hoặc vật sắp rơi. Kết quả chỉ áp dụng cho mẫu, người thử và điều kiện đã thỏa thuận, không bảo đảm giống nhau với mọi vóc dáng và thói quen sử dụng.
So sánh hồi phục theo cùng một mốc
Sau khi chuẩn bị và để nghỉ theo thỏa thuận, trải phẳng mẫu có túi rỗng theo cách hai bên thống nhất; đánh dấu hoặc vẽ các điểm đo có thể tìm lại. Ghi chiều rộng miệng túi, khoảng cách từ đáy túi đến một điểm cố định trên thân và tình trạng hai đầu miệng. Ghi rõ điểm cố định và có đo dọc theo bề mặt áo hay không; không nhầm chiều rộng khi trải phẳng với chu vi miệng túi. Không dùng thước dây kéo giãn mẫu; ghi góc chụp, ánh sáng và phiên bản mẫu, lưu ảnh trước và sau.
Cho vật vào theo điều kiện đã thống nhất và ghi tình trạng có tải. Kiểm tra ngay sau khi lấy ra, sau đó để nghỉ theo cách và thời gian đã thỏa thuận rồi đo và chụp lại. So sánh ba nhóm dữ liệu: túi rỗng trước khi cho đồ, ngay sau khi lấy ra và sau khi nghỉ; đánh dấu khác biệt và vị trí. Không kéo chỉnh bằng tay hoặc ủi thêm trước khi kiểm tra vì sẽ thay đổi điều kiện so sánh. Chênh lệch đo có thể gồm sai số đặt mẫu và đọc số; kiểm tra lại phương pháp và điểm đo trước khi quyết định có cần mẫu mới không. Hai bên cần thỏa thuận trước mẫu ngoại quan, mục tiêu đo và dung sai, không tự giả định một giá trị chùng cho phép chung.
Ví dụ giả định hai bên dùng một vật đại diện so sánh hai phiên bản cùng cỡ: A kéo thân áo xuống rõ khi có tải và vẫn không phẳng sau khi lấy ra và để nghỉ; B thay đổi cả mối nối miệng túi lẫn vải túi và có ngoại quan tốt hơn trong cùng điều kiện. Ghi rằng B thay đổi đồng thời hai yếu tố; không khẳng định một yếu tố riêng lẻ đã giải quyết vấn đề. Kiểm tra thêm việc cho vào lấy ra có thuận tiện, mối nối có nguyên vẹn và sau chăm sóc có còn đáp ứng thỏa thuận không. Chi phí và thời gian giao hàng cũng cần xác nhận riêng.
Phân biệt thử dùng mẫu và thử nghiệm mối nối
Xem mặt trước và mặt sau của hai đầu miệng túi, đáy túi và đường nối; ghi chỉ lỏng, chỉ đứt, vòng sợi bị kéo mở, lỗ thủng cục bộ và thân áo xoắn. Không chỉ kiểm tra vải túi. Tài liệu may vải dệt kim của Đại học Bang Utah khuyên chọn kiểu đường may theo độ co giãn của vải và kiểm tra đường may chắc, đều và không đứt chỉ. Tài liệu giúp thảo luận chất lượng may, nhưng quan sát khi mặc trong hướng dẫn này không phải thử nghiệm độ bền trong phòng thí nghiệm hay thử lực phá hủy.
Nếu đơn hàng cần định lượng độ bền hoặc lực của mối nối, trước khi lấy mẫu hãy thống nhất với phòng thí nghiệm đối tượng thử, phương pháp phù hợp, cấu trúc mẫu, tình trạng chuẩn bị, đơn vị kết quả, giới hạn đánh giá và nội dung báo cáo. Các kiểu nối khác nhau có thể cần phương pháp khác nhau; yêu cầu phòng thí nghiệm xác nhận phương pháp phù hợp cấu trúc dệt kim đó. Một lần quan sát có tải hoặc một kết quả lực không tự chứng minh cả lô đáng tin cậy trong mọi cách sử dụng. Khi cần thảo luận mối nối, xem hướng dẫn duyệt nối vòng và đường may áo dệt kim.
Đánh giá lại sau chăm sóc và xác định phạm vi duyệt
Dùng một mẫu đại diện khác, xử lý theo cách chăm sóc đã được hai bên xác nhận và phù hợp với mẫu đó; ghi việc giặt, làm khô và tình trạng chuẩn bị trước khi đo lại. Kiểm tra ngoại quan túi rỗng, miệng túi và mối nối, rồi đánh giá lại với cùng vật dụng và điều kiện thử mặc. Nếu mẫu đã mặc và mẫu được chăm sóc có lịch sử khác nhau, không quy trực tiếp khác biệt cho việc chăm sóc. Đây là bước duyệt mẫu được hướng dẫn đề xuất, không có nghĩa mọi mẫu đều thay đổi như nhau. Tham khảo hướng dẫn thử giặt áo dệt kim để kiểm tra thêm ngoại quan và độ co.
Biên bản duyệt tối thiểu ghi mã mẫu, màu, cỡ, phiên bản sợi và cấu trúc, mục đích túi, vật dụng và điều kiện sử dụng, điểm đo và điều kiện nghỉ, quy trình chăm sóc, ảnh, quan sát và số đo, kết luận, vấn đề còn mở và người phụ trách. Liệt kê cỡ và màu đặt mua, chọn mẫu đại diện theo cấu trúc và công dụng; đánh dấu cỡ, màu hoặc cấu trúc chưa kiểm tra là chờ xác nhận. Khi sợi, vải túi, mối nối, hoàn tất hoặc yêu cầu chăm sóc thay đổi, hai bên thống nhất lại phạm vi bị ảnh hưởng. Nếu ngoại quan, chức năng hoặc mối nối còn chưa quyết định, giữ trạng thái chưa duyệt; không dùng các mục khác đạt để thay thế duyệt tổng thể.
Qua trang yêu cầu WTBF, gửi hình kiểu áo, loại và công dụng túi, kích thước và khối lượng vật đại diện, cỡ và số lượng theo từng mẫu từng màu, sợi hoặc mẫu hiện có, cách chăm sóc dự kiến, ảnh và vấn đề cần giải quyết. Đề nghị nhà cung cấp xác nhận mẫu, điều chỉnh, chi phí và thời gian. Phương án và phạm vi duyệt cụ thể theo thỏa thuận của hai bên.
